

Thứ ba, TCTD phải sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt để thanh toán số tiền mua TPDN cho DN hoặc bên bán TPDN (Khoản 16 được bổ sung cho Điều 4).
Quy định này sẽ kiểm soát giao dịch và mục đích sử dụng vốn của DN thuận tiện hơn trong quá trình giám sát tín dụng và quản trị rủi ro. Điều này nhằm tránh tình trạng giao dich tiền mặt và do đó mục đích sử dụng vốn khó có thể đảm bảo việc xác minh và đánh giá bởi TCTD và các bên độc lập như kiểm toán mục đích sử dụng vốn.
Về những điểm bổ sung để dự thảo mang tính chặt chẽ hơn, ông Thuân đưa ra một vài lưu ý. Dự thảo bổ sung quy định TCTD chỉ có thể mua TPDN khi hệ số Nợ/ Vốn chủ sở hữu (bao gồm cả khối lượng TPDN dự kiến phát hành) không vượt quá 5 lần dựa trên báo cáo tài chính gần nhất đã được kiểm toán (bổ sung điểm e, khoản 6, Điều 4). Tức là các DN có mức đòn bảy cao hơn mức 5.x này sẽ không thuộc đối tượng được TCTD mua trái phiếu. Điều này nhằm tránh việc nhiều doanh nghiệp là công ty dự án có đòn bảy rất cao, lên đến chục và vài chục lần mặc dù đáp ứng các tiêu chí phát hành trái phiếu của NĐ153 hoặc sửa đổi với NĐ65 sẽ không được TCTD mua nữa.
Các quy định khác quan trọng đối với từng TCTD vẫn được giữ, theo nguyên tắc: phải có NPL < 3%, kiểm soát được mục đích sử dụng vốn, có phương án khả thi trong việc đảm bảo thanh toán gốc và lãi đúng hạn và DN không có nợ xấu (từ Nhóm 3 – Dưới chuẩn) trong vòng 12 tháng gần nhất trên CIC.
Tóm lại , chuyên gia FiinRatings cho rằng việc quan trọng nhất đối với vấn đề nợ trái phiếu hiện nay là nhu cầu tái tài trợ hoặc cơ cấu lại nợ vẫn chưa được dự thảo sửa đổi trong lần này trong bối cảnh nợ xấu trái phiếu đang tăng từng ngày (Nợ xấu TPDN tính trên non-bank bonds là 12% và riêng trái phiếu BDS thi default ratio la 20,17% tại ngày 17/3 và có xu hướng tăng tiếp).
Do đó, nếu như dự thảo sửa đổi Thông tư 16 này được giữ nguyên thì cũng chưa có tác động nhiều đến việc giải quyết vấn đề TPDN nói riêng và trong đó có tín dụng bất động sản. Điều này cũng sẽ tạo áp lực lên tỷ lệ nợ xấu vào thời gian tới đây nếu như không được tái cơ cấu.
Chuyên gia cho rằng biện pháp này mang tính kỹ thuật nhiều hơn bởi mấu chốt vẫn là sự cải thiện về dòng tiền từ DN, nhưng triển vọng thì chưa có dấu hiệu tốt lên. Vì vậy, tác động chéo sang chất lượng tín dụng của ngân hàng là hiện hữu.
Bởi khi một doanh nghiệp chậm trả trái phiếu thì sau đó sẽ có khả năng chậm trả nợ ngân hàng và khi quá hạn 91 ngày thì vào Nhóm 3 – Nợ dưới chuẩn, mức lập dự phòng 20% và trên 181 ngày thì vào Nhóm 4 – Nghi ngờ, 50% dự phòng và mức xấu nhất là nếu chậm trả > 1 năm thì nhảy Nhóm 5 – Mất vốn, 100% dự phòng nợ xấu.
“Đây là vấn đề nên được đánh giá cụ thể và có những chính sách tiếp theo để có thể giải quyết vấn đề TPDN hiện nay và giảm thiểu rủi ro sang nợ xấu tín dụng ngân hàng”, ông Nguyễn Quang Thuân nhận định.
Hạ Anh/Nhịp sống thị trường